CHỌN LỰA THUỐC ĐIỀU TRỊ TIỂU ĐƯỜNG TRÊN BỆNH NHÂN LỚN TUỔI



Trên bệnh nhân tiểu đường lớn tuổi, chức năng thận suy giảm, các hormon đối kháng insulin giảm sút, ăn uống cũng giảm đi, dễ bỏ bữa ăn do suy giảm trí tuệ…do đó khả năng hạ đường huyết rất dễ sảy ra. Việc lựa chọn thuốc điều trị tiểu đường cho bệnh nhân lớn tuổi cần cân nhắc thận trọng.

 Thuốc điều trị tiểu đườngỞ bệnh nhân lớn tuổi chức năng vận động, trí tuệ đã có thể bị giảm sút nghiêm trọng. Do vậy mục tiêu điều trị phải được điều chỉnh dựa vào chức năng vận động và suy giảm trí tuệ của bệnh nhân. Phân nhóm bệnh nhân và mục tiêu điều trị vui lòng tham khảo bài :

 HƯỚNG DẪN ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN TIỂU ĐƯỜNG LỚN TUỔI

CHỌN LỰA THUỐC ĐIỀU TRỊ TIỂU ĐƯỜNG TRÊN BỆNH NHÂN LỚN TUỔI

Thuốc uống hạ đường huyết được chỉ định sau khi thay đổi lối sống 3 tháng mà vẫn không đạt mục tiêu điều trị. Việc chọn lựa thuốc phải dựa vào bệnh cảnh lâm sàng, chức năng, tâm lý xã hội, qui định kê toa và giá thuốc.

Ở bệnh nhân lớn tuổi, đã có sự thay đổi về dược động học, do đó nên bắt đầu với liều thấp và tránh dùng liều thuốc tối đa.

Ở bệnh nhân lớn tuổi, đường huyết sau ăn thường tăng nhiều hơn là tăng đường huyết đói, do đó các thuốc hạ đường huyết sau bữa ăn có thể hiệu quả hơn trong việc đạt được các mục tiêu đường huyết mà không làm tăng nguy cơ hạ đường huyết lúc đói

Tất cả các thuốc hạ đường huyết đều có thể sử dụng an toàn trên bệnh nhân đái tháo đường lớn tuổi. Tuy nhiên cần xem xét và lựa chọn thuốc hợp lý

NHÓM THUỐC METFORMIN

Metformin là thuốc được xem như lựa chọn hàng đầu trong điều trị đái tháo đường type 2 ở người trẻ và cả người lớn tuổi, khi thay đổi lối sống không đạt được mục tiêu điều trị. Thuốc có ưu điểm là ít gây hạ đường huyết.
Metformin thường có tác dụng phụ trên đường tiêu hóa ở bệnh nhân lớn tuổi

Sử dụng metformin an toàn ở liều thấp trên bệnh nhân có độ lọc cầu thận ước tính eGFR 30-45 ml/min/1.73 m2 nhưng không nên sử dụng trên bệnh nhân có đô lọc cầu thận ước tính eGFR < 30 ml/min/1.73 m2 ( Suy thận giai đoạn 4 trở lên).

Do đó phải đánh giá chức năng thận trước khi đều trị và theo dõi định kỳ.

Metformin cũng chống chỉ định trong bệnh cảnh giảm dịch nội mạch ( suy tim ứ đọng, dùng thuốc cản quang, rối loạn chức năng gan thận) do vậy thuốc có giới hạn trên một số bệnh nhân lớn tuổi.

NHÓM THUỐC SULFONYLUREAS

Sulfonylureas được lựa như thuốc hàng đầu trong điều trị đái tháo đường type 2 nếu bệnh nhân không dung nạp được metformin hay metformin bị chống chỉ định.

Tuy nhiên, nhóm thuốc này có nguy cơ gây hạ đường huyết cao cho bệnh nhân đái tháo đường type 2 lớn tuổi.
Glyburide/ glibenclamide là những thuốc thuộc nhóm sulfonylureas có khả năng gây hạ đường huyết cao, do đó không nên sử dụng cho bệnh nhân trên 60 tuổi. Khi đó, nhóm gliclazide hay glimepiride nên được lựa chọn vì ít gây hạ đường huyết trên người lớn tuổi hơn.

NHÓM GLINIDES

Nhóm glinides (repaglinide và nateglinide) là nhóm thuốc kích thích tiết insulin nhanh có thời gian bán hủy ngắn (60-90 phút) khi so với sulfonylureas.

Những loại thuốc này cần được uống ngay trước bữa ăn và nếu không ăn thì không cần uống thuốc, do đó tránh được biến chứng hạ đường huyết ở những người già yếu hoặc những người mắc chứng sa sút trí tuệ với thói quen ăn uống không đều.

NHÓM THUỐC ỨC CHẾ DPP-4

Các thuốc ức chế DPP-4 được dung nạp tốt ở người lớn tuổi.

Bệnh nhân chủ yếu dùng liều một lần trong ngày, sử dụng an toàn ở những người bị suy thận, và ít có nguy cơ hạ đường huyết và ít các phản ứng phụ trên dạ dày-ruột

NHÓM THUỐC ỨC CHẾ HẤP THU CARBOHYDRATE Ở RUỘT ( ACARBOSE)

– Nguy cơ hạ đường huyết hạ thấp, chi phí thấp và hiệu quả trong việc làm giảm glucose máu sau ăn là những đặc điểm quan trọng khi sử dụng ở người cao tuổi.

– Tuy nhiên, yếu tố hạn chế chủ yếu của nhóm thuốc điều trị tiểu đường này là các tác dụng phụ trên đường tiêu hóa, như đầy hơi và tiêu chảy.

NHÓM THIAZOLIDINEDIONES

Thiazolidinediones ( TZD) là nhóm thuốc giảm glucose hiệu quả và có nguy cơ hạ đường huyết thấp.
TZD có một số phản ứng phụ đáng kể (ví dụ tăng cân, giữ nước, phù ngoại vi, làm tăng chứng suy tim sung huyết) và tăng nguy cơ gãy xương.

Mối quan tâm về nguy cơ tăng nhồi máu cơ tim với nhóm  rosiglitazone làm giảm đáng kể sự nhiệt tình của việc sử dụng các thuốc điều trị tiểu đườngnày.

Tuy nhiên, trên bệnh nhân lớn tuổi được chọn lọc, thuốc vẫn có thể được chọn lựa vì ít gây hạ đường huyết, hiệu quả, uống 1 lần mỗi ngày.

NHÓM ĐỒNG VẬN GLP-1

Thuốc đồng vận GLP-1 bắt chước hoạt động của incretin, tuy nhiên ít có dữ liệu sử dụng cho bệnh nhân lớn tuổi.

Nhóm ức chế đồng vận chuyển glucose và Natri ở thận

Đây là nhóm thuốc mới, có tác dụng giảm tái hấp thu glucose ở thận, do đó thải đường qua nước tiểu, giúp hạ đường trong máu.

Nhóm thuốc điều trị tiểu đường này mới do đó ít có dữ liệu trên bệnh nhân lớn tuổi.

Thuốc tăng nguy cơ nhiễm trùng đường sinh dục và đường niệu. Giảm thể tích dịch, tụt huyết áp tư thế, và giảm cân có thể hạn chế sử dụng ở một số người cao tuổi.

INSULIN

Bằng chứng gần đây cho thấy việc sử dụng insulin tác dụng kéo dài có thể an toàn và hiệu quả ở những người lớn tuổi bị tiểu đường so với các loại insulin khác

 Với những đặc tính của thuốc điều trị tiểu đường trên người lớn tuổi trên, huy vọng giúp bệnh nhân đái tháo đường type 2 lớn tuổi kiểm soát đường huyết tốt, an toàn

Những bài liên quan:

Giới thiệu về tác giả

Lý lịch Bs Chuyên khoa 2 Ngô Thế Phi

Sáng lập website www.daithaoduong.com
1999: Tốt nghiệp ĐH Y Dược TP.HCM
2000-2001: Chuyên khoa sơ bộ Nội Tiết BV Chợ Rẫy
2007: Tốt nghiệp Chuyên khoa 1 Nội Tiết ĐH Y Dược TP.HCM
2013: Tốt nghiệp Chuyên khoa 2 Nội Tiết ĐH Y Dược TP.HCM

Phòng khám Tiểu đường
Số 241, Đặng Văn Bi, Phường Trường Thọ, Quận Thủ Đức, TP. HCM

PHẦN BÌNH LUẬN:

  1. Đuong của máu mao mạch thấp hơn khoảng bao nhiêu% so với máu tĩnh mạch vậy bác?

    • Chào Hùng
      Vì trong máu mao mạch có cả tế bào máu, còn trong máu tĩnh mạch chỉ lấy phần huyết tương ( plasma) để đo glucose. Do đó đường trong máu tĩnh mạch cao hơn so với đường trong mao mạch khoãng 10 -15%. D0 vậy, nếu đo bằng máy đo đường huyết cá nhân, kết quả sẽ thấp hơn 10 – 15% so với kết quả rút máu tĩnh mạch gởi phòng xét nghiệm để đo.

Viết phản hồi của bạn

*